Thực tế, nhựa dạng nước có thể được phân loại thành kiểu nước, kiểu phân tán nước và kiểu hòa tan nước dựa trên ngoại hình của chúng. Nhiều người cho rằng đây là cùng một loại nhựa, nhưng thực tế lại không phải. Không chỉ ngoại hình khác nhau, mục đích sử dụng và tính chất của chúng cũng rất khác biệt.
Hiện tại, xã hội đã xuất hiện một số khái niệm mơ hồ, gọi tất cả các loại nhựa dạng nước là nhựa hòa tan nước. Nhựa akrilic dạng nước thường được chia thành nhựa akrilic kiểu nước và nhựa akrilic rắn dạng nước. Nhựa kiểu nước được điều chế bằng cách thêm chất emulsifier. Nhựa hòa tan nước đạt được tính tự emulsify thông qua các nhóm ưa nước trên chuỗi polyme. Nhựa kiểu phân tán nước nằm giữa hai loại trên, chỉ cần thêm một lượng nhỏ chất emulsifier và các nhóm ưa nước không đủ. Chúng phụ thuộc vào nguồn năng lượng mạnh từ bên ngoài, chẳng hạn như khuấy tốc độ cao để phân tán, hoặc sử dụng sóng siêu âm để đạt được tính phân tán trong nước. Do đó, kích thước hạt và độ trong của chúng cũng nằm giữa hai loại trước đó. Loại nước có tính dầu, thường xuất hiện màu trắng sữa. Nhựa hòa tan nước có tính trong suốt, là một dung dịch thực sự ở trạng thái phân tán cấp phân tử, thuộc trạng thái phân tán cấp nano.
Nhựa akrilic có những đặc điểm ưu việt như độ chịu ánh sáng tốt, độ chịu thời tiết tốt, không bị vàng hóa và duy trì độ bóng cao trong thời gian dài. Nó cũng có thể được cải tiến thông qua phương pháp ghép nhánh, đồng trùng hợp và trộn lẫn với các monome và polyme khác để đạt được tính chịu nước, chịu hóa chất, chống bẩn và chống ăn mòn vượt trội. Nó được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như sơn phủ, dầu keo, mực in, trợ dệt may và da.
Cấu trúc và tính chất của nhựa akrilic kiểu nước và nhựa akrilic hòa tan nước (bao gồm nhựa kiểu phân tán nước) là khác nhau, do đó ứng dụng của chúng tự nhiên cũng khác biệt. Nhựa kiểu nước có tính dầu tương đối, chỉ có thể được phân tán trong nước khi được bao bọc bởi chất hoạt tính bề mặt, tức là chất emulsifier. Vì vậy, khi sử dụng chúng cùng với các loại nhựa và phụ gia khác, cần đặc biệt cẩn thận để ngăn chặn lớp bao bọc này bị tách ra bởi nhiệt độ, lực khuấy hoặc bị hấp phụ và phản ứng bởi các chất từ bên ngoài, tránh hiện tượng đổ và cô đặc. Với nhựa hòa tan nước, do có nhiều nhóm cực trên chuỗi phân tử của chúng, chẳng hạn như nhóm hydroxi, nhóm carboxyl, nhóm sulfonic, nhóm amino, nhóm amide, nhóm hydroxymethyl, nhóm vinyl oxide, v.v. Do đó, dung dịch phân tán nước và nhựa hòa tan nước có một hoạt tính bề mặt polyme nhất định. Hoạt tính bề mặt này khác nhau tùy thuộc vào tỷ lệ và sự phân bố của các nhóm ưa nước và kỵ nước, chẳng hạn như tính ướt và phân tán, emulsify và tiêu bọt, thấm đọng và hấp phụ, v.v. Việc lựa chọn phụ gia và điều kiện phối trộn dựa trên tính chất cấu trúc của các loại nhựa hòa tan nước này có thể giúp chúng tìm được ứng dụng lý tưởng trong sơn phủ, dầu keo, trợ dệt may và da. Phạm vi ứng dụng của nhựa kiểu nước hẹp (từ 5-40 độ C). Ngoài phạm vi này, có thể xảy ra hiện tượng đổ. Nhựa hòa tan nước có phạm vi nhiệt độ hoạt động rộng, có thể chịu được chu kỳ đông - tan và chống nhiệt, và có thể đạt được hiệu suất tốt hơn và phạm vi ứng dụng rộng hơn so với nhựa kiểu nước. Ví dụ, sơn đồ gỗ dạng nước do chúng tôi phát triển có thể chịu được nước sôi, ngâm trong nước ở nhiệt độ 68-72 độ C, cồn y tế 95% và dung dịch muối chứa iốt 4,5% trong 30 ngày mà màng sơn vẫn giữ nguyên trạng thái nguyên vẹn. Độ cứng đạt 2H, độ chịu va đập 50cm. Màng sơn đầy đặn và mịn màng, hoàn toàn có thể cạnh tranh với sơn PU dung môi.